水木しげるの作品には、表層を超えた深い含意がこめられている。
Trong các tác phẩm của Mizuki Shigeru, luôn ẩn chứa những hàm ý sâu sắc vượt lên trên bề mặt.
その代表例の一つが1967年『週刊少年マガジン』に掲載された「さら小僧」だ。
Một ví dụ tiêu biểu là truyện “Sara Kozou” đăng trên tạp chí Weekly Shonen Magazine năm 1967.
これは、よく知られた『ゲゲゲの鬼太郎』シリーズの一編である。
Đây là một phần trong loạt truyện nổi tiếng “GeGeGe no Kitaro”.
物語に登場するのは、一向に売れない歌手だ。
Nhân vật chính của câu chuyện là một ca sĩ mãi không nổi tiếng.
ある日かれは、沼沢地を通りかかった際、どこからか妙なる歌が聞こえてきて思わず体が踊り出してしまう。
Một ngày nọ, khi đi ngang qua vùng đầm lầy, anh ta nghe thấy một khúc hát kỳ lạ vang lên từ đâu đó, khiến cơ thể không thể không nhảy múa.
その場の全て──蛙、草木までも──がスイングしはじめるほどリズムが素晴らしい。
Nhịp điệu tuyệt vời đến mức mọi thứ xung quanh—cả ếch, cỏ cây—đều bắt đầu lắc lư theo.
慌ててそれをメモ帳に写したかれは、すぐにバンドを結成し、歌唱化した所、その歌は空前のヒットになった。
Vội vàng ghi lại giai điệu vào sổ tay, anh lập tức thành lập ban nhạc và trình diễn ca khúc đó, kết quả là bài hát trở thành một cú hit chưa từng có.
ライブ会場は常に超満員、テレビやラジオにも引っぱりだこの歓喜の渦。
Các buổi biểu diễn luôn chật kín khán giả, anh được mời liên tục lên truyền hình và radio, chìm trong vòng xoáy hân hoan.
しかし、この成功も束の間。
Tuy nhiên, thành công này chỉ kéo dài trong chốc lát.
夜になると、かれの家をノックする者があった。
Đêm đến, có kẻ gõ cửa nhà anh.
それは、沼に住むさら小僧と妖怪たちだった。
Đó là Sara Kozou và các yêu quái sống ở đầm lầy.
盗まれた歌の本来の所有者であるさら小僧は激怒し、知的財産権の侵害も甚だしいと、歌手を「隠れ里」へと連れ去ってしまったのである。
Sara Kozou, chủ nhân thực sự của bài hát bị đánh cắp, vô cùng tức giận, cho rằng đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền sở hữu trí tuệ, và đã bắt ca sĩ mang đi đến “làng ẩn”.
言い換えれば、知的財産の保護を訴える物語であるとともに、現代社会における著作権・特許権の在り方を風刺する寓話なのだ。
Nói cách khác, đây là câu chuyện kêu gọi bảo vệ tài sản trí tuệ, đồng thời là một truyện ngụ ngôn châm biếm về thực trạng bản quyền và quyền sáng chế trong xã hội hiện đại.
知的財産権の保護と活用は、今日の企業経営──特にグローバル展開において──極めて重要な戦略と化している。
Việc bảo vệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ ngày nay đã trở thành chiến lược cực kỳ quan trọng trong quản trị doanh nghiệp—đặc biệt là khi mở rộng toàn cầu.
その歴史的背景を遡れば、この流れを先駆けて発展させたのがアメリカである。
Nhìn lại lịch sử, Mỹ là quốc gia tiên phong phát triển xu hướng này.
親パテント、反パテントの動きが循環的に繰り返されたが、米国連邦特許法が制定されたのは1790年。
Dù các phong trào ủng hộ và phản đối bằng sáng chế liên tục luân phiên, nhưng Luật Sáng chế Liên bang Mỹ đã được ban hành từ năm 1790.
日本においては、蔦屋重三郎と山東京伝が風紀紊乱の咎を受けた時期に相当する。
Tại Nhật Bản, thời điểm này trùng với giai đoạn Tsutaya Jūzaburō và Santō Kyōden bị kết tội làm rối loạn phong tục.
米国に出張した際、商務省の玄関脇に掲げられた「特許制度とは才子の焔に利得の油を注ぐものである」という言葉に目を引かれた。
Khi công tác tại Mỹ, tôi đã chú ý đến câu nói được treo bên cạnh lối vào Bộ Thương mại: “Chế độ bằng sáng chế là thứ rót dầu lợi ích vào ngọn lửa tài năng.
これは、第16代大統領リンカーンのものだ。
” Đây là lời của Tổng thống thứ 16, Abraham Lincoln.
ゼロックス社に見られるように、特許戦略は企業の躍進を支える最強の武器になり得る。
Như trường hợp của Xerox, chiến lược bằng sáng chế có thể trở thành vũ khí mạnh nhất giúp doanh nghiệp phát triển vượt bậc.
私が新入社員だった当時、ゼロックスは世界最先端のPPC方式で普通紙へのコピーを可能にし、業界を席巻していた。
Khi tôi còn là nhân viên mới, Xerox đã làm mưa làm gió trên thị trường với công nghệ PPC tiên tiến nhất thế giới, cho phép sao chép lên giấy thường.
その強さは、600件を超える特許によって構築された防衛システムにあった。
Sức mạnh của họ nằm ở hệ thống phòng thủ được xây dựng từ hơn 600 bằng sáng chế.
周辺技術に及ぶまで鉄壁の特許で固められ、和解金を払わされる米国企業も少なくなかったという。
Ngay cả các công ty Mỹ cũng không ít lần phải trả tiền dàn xếp vì bị bao vây bởi các bằng sáng chế vững chắc, bao trùm cả các công nghệ liên quan.
ゼロックスの要塞に果敢に挑んだのが、当時主業がカメラであったC社である。
Công ty C, lúc đó chủ yếu sản xuất máy ảnh, đã dũng cảm thách thức pháo đài Xerox.
多角化を模索する同社にとって、コピー機市場は魅力的な分野であったが、あまりに強大なゼロックスの壁に阻まれていた。
Đối với công ty này, đang tìm kiếm đa dạng hóa, thị trường máy photocopy là lĩnh vực hấp dẫn, nhưng họ bị cản trở bởi bức tường quá lớn của Xerox.
それでも経営陣は、無謀との批判を押し切り、NP方式の特許を開発し、米国に特許出願を申請した。
Tuy nhiên, ban lãnh đạo đã vượt qua mọi chỉ trích cho là liều lĩnh, phát triển thành công bằng sáng chế công nghệ NP và nộp đơn xin cấp bằng sáng chế tại Mỹ.
ゼロックス社の牙城を打ち破った証左として、C社の株価はわずか一週間で50%上昇したが、その後、製品化まで苦難の時を過ごすことになる。
Giá cổ phiếu của công ty C đã tăng 50% chỉ trong một tuần như minh chứng cho việc phá vỡ thành trì của Xerox, nhưng sau đó họ phải trải qua nhiều gian nan để thương mại hóa sản phẩm.
1972年、NP-L7が高性能・低価格を引っさげ、ベストセラーとなったことで事態は変わる。
Năm 1972, với sự ra đời của NP-L7 hiệu suất cao, giá thành thấp, tình hình đã thay đổi khi sản phẩm trở thành bestseller.
ゼロックスとの訴訟を乗り越えるために持ちこたえた技術力と特許戦略が、C社をして今日の特許大国に押し上げた。
Chính năng lực công nghệ và chiến lược bằng sáng chế giúp họ vượt qua các vụ kiện với Xerox đã đưa công ty C trở thành cường quốc bằng sáng chế như ngày nay.
特許だけでない。
知的財産は、著作権など広義の概念へと拡張している。
Tài sản trí tuệ còn được mở rộng sang các khái niệm rộng hơn như bản quyền.
たとえば、飲食店で流れるBGMは、事実上、著作権者に対する報酬にほかならない。
Ví dụ, BGM phát trong các nhà hàng thực chất là khoản thù lao trả cho chủ sở hữu bản quyền.
アーティストや歌手の権利を守る動きも強まり、演奏や音楽伝達権に関連する著作隣接権の保護については、世界142カ国が国際的条約に署名しているにもかかわらず、日本は留保しているというのが現状である。
Phong trào bảo vệ quyền lợi của nghệ sĩ, ca sĩ cũng ngày càng mạnh mẽ, và dù 142 quốc gia đã ký kết các hiệp ước quốc tế về bảo vệ quyền liên quan đến biểu diễn và truyền đạt âm nhạc, Nhật Bản hiện vẫn còn bảo lưu.
日本文化のグローバル展開を推進するには、文化担い手の権利保護を強化する以外にない。
Để thúc đẩy toàn cầu hóa văn hóa Nhật Bản, không còn cách nào khác ngoài việc tăng cường bảo vệ quyền lợi của những người làm văn hóa.
特許の防衛は難易度が高い。
Việc bảo vệ bằng sáng chế rất khó khăn.
むしろそれが、知的財産の世界における普遍的な戦いであり、戦略だ。
Đó chính là cuộc chiến phổ quát và là chiến lược trong thế giới tài sản trí tuệ.
文化と経済の両輪による国益の追求に必須である。
Đây là điều thiết yếu để theo đuổi lợi ích quốc gia bằng cả hai bánh xe văn hóa và kinh tế.
権利を擁護する先には創造力の焔があり、そのおかげでこそ、日本文化は国際舞台で輝くことができるのだ。
Đằng sau việc bảo vệ quyền lợi là ngọn lửa sáng tạo, và chính nhờ đó mà văn hóa Nhật Bản mới có thể tỏa sáng trên trường quốc tế.